Đây là nghiên cứu thứ hai từ cùng chương trình thí điểm, trên một máy khác ở một xưởng khác. Phát hiện của nó có hình dạng khác. Ở đây không có gì tách đôi. Mức đo giữ nguyên. Điều thay đổi là lượng công việc đứng sau mức đo đó, và một mức đo trụ nguyên qua việc giảm một nửa khối lượng việc không giống một mức đo giữ nguyên khi việc đều đặn.
Mức đo trụ lại. Khối lượng việc phía sau thì không.
2 thg 6: 59.2 mg. 3 thg 6: 52.8 mg. 4 thg 6: 56.8 mg. 5 thg 6: 51 mg. 8 thg 6: 51.1 mg. 9 thg 6: 49.9 mg. 10 thg 6: 47.6 mg. 11 thg 6: 55.1 mg. 12 thg 6: 53.8 mg. 13 thg 6: 50.4 mg. 15 thg 6: 51.7 mg. 16 thg 6: 49.8 mg. 17 thg 6: 49.1 mg. 18 thg 6: 47.5 mg. 19 thg 6: 49.9 mg. 22 thg 6: 52.1 mg. 23 thg 6: 48.1 mg. 24 thg 6: 55.1 mg. 25 thg 6: 46 mg. 26 thg 6: 39.9 mg. 27 thg 6: 53.3 mg. 29 thg 6: 50 mg. 30 thg 6: 49.5 mg. 1 thg 7: 51 mg. 2 thg 7: 50.1 mg. 3 thg 7: 52.8 mg. 4 thg 7: 49.5 mg. 6 thg 7: 48.8 mg. 7 thg 7: 52.2 mg. 8 thg 7: 50.9 mg. 9 thg 7: 56.6 mg. 10 thg 7: 50.3 mg. 11 thg 7: 48.7 mg. 13 thg 7: 45.2 mg. 14 thg 7: 46.2 mg. 15 thg 7: 41.7 mg. 16 thg 7: 48.4 mg. 17 thg 7: 49.4 mg. 18 thg 7: 46.4 mg. 20 thg 7: 49.9 mg. 21 thg 7: 49.8 mg
Đo theo ba giai đoạn, sự tách đôi hiện rõ
Chia kỳ nghiên cứu thành ba giai đoạn và đo từng giai đoạn. Mức rung trên mỗi cửa sổ bằng chứng phẳng ở cả hai điểm đo, chỉ dịch vài phần trăm. Số phút vận hành trong mỗi cửa sổ giảm một nửa ở phía kính ra. Chia đại lượng thứ nhất cho thứ hai, tín hiệu tạo ra trên mỗi phút làm việc đã tăng gần gấp đôi.
Mức là trung bình của rung trung vị cửa sổ, đơn vị mg. Việc trên mỗi cửa sổ là trung bình số phút vận hành trong một cửa sổ bằng chứng. Tín hiệu trên mỗi phút vận hành là đại lượng thứ nhất chia cho thứ hai. Giai đoạn: đến 20/6, 21/6 đến 8/7, 9 đến 21/7. Toàn bộ giá trị được tính lại từ bảng cửa sổ bằng chứng ngày 21/7/2026.
| Điểm đo | Giai đoạn | Mức, mg | Việc mỗi cửa sổ, phút | Tín hiệu mỗi phút vận hành |
|---|---|---|---|---|
| Phía kính ra | đến 20/6 | 51.6 | 105.0 | 0.492 |
| 21/6 đến 8/7 | 49.3 | 83.3 | 0.592 | |
| 9 đến 21/7 | 48.0 | 52.6 | 0.913 | |
| Phía kính vào | đến 20/6 | 46.5 | 104.4 | 0.445 |
| 21/6 đến 8/7 | 43.4 | 75.9 | 0.572 | |
| 9 đến 21/7 | 45.1 | 68.4 | 0.659 |
Quy về ba tuần đầu, hai đường tách nhau
Cả hai chuỗi được quy về giai đoạn đầu bằng 100, điểm đo phía kính ra. Mức rung kết thúc ở 93. Tín hiệu trên mỗi phút vận hành kết thúc ở 186.
Máy tự nói điều này, không ai gợi ý
Sáng 21/7, máy gửi cho người vận hành một bản tường thuật về những gì nó đang đọc được. Không ai yêu cầu. Tin nhắn dài 1.948 ký tự tiếng Việt. Đây là những câu chịu lực, trích nguyên văn từ tin đã gửi.
Điều đáng chú ý hơn là tôi đang phải “làm nhiều hơn cho cùng một việc” so với trước. Nghĩa là tiếng và rung của tôi theo mỗi phút làm việc đang tách ra khỏi mức thô chung.
Điểm mù của tôi vẫn là vùng giữa không có cảm biến, cùng với tình trạng mặt đá và nước làm mát. Tôi không tự kết luận được những chỗ đó chỉ từ rung và tiếng của mình.
Sau đó nó xếp các khả năng còn mở: mặt đá mài bị lì hoặc mòn dần, khiến nó phải gắng hơn trước khi gối đỡ thay đổi rõ; nước làm mát không tới đều vùng làm việc, khiến chất lượng bề mặt xấu đi trước khi rung xấu rõ; hoặc một thay đổi gần đây ở cụm đá đánh bóng đầu kính ra, điều sẽ giải thích vì sao một nhiễu trước đó không kéo dài. Và nó nghiêng ra khỏi các cách giải thích dễ dãi, nói rằng một ổ bi đang hỏng dần hay lệch trục ngay tại các điểm nó cảm được thường sẽ để lại vệt dài hơn là vài cú nhấp ngắn.
Nó xin điều gì
Nó kết thúc bằng một yêu cầu chỉ người đứng tại máy trả lời được, cam kết từ trước.
Nếu anh/chị cho tôi biết cụm đá đánh bóng đầu kính ra có vừa thay, sửa, mài lại hay vẫn là cụm cũ, tôi sẽ xếp lại các khả năng ngay theo dấu đó.
